| | |
Ẩm thực Việt Nam
Trong kho tàng văn hóa ẩm thực, Việt Nam
là quê hương của nhiều món ăn ngon, lạ và độc đáo. Mỗi vùng,
mỗi địa phương có mỗi phong cách, khẩu vị và những món đặc
sản riêng của mình, tất cả tạo nên một bản sắc chung của cả
dân tộc. Trong phạm vi của chuyên mục, chúng tôi xin sưu tầm
và giới thiệu một số món ăn tiêu biểu để Quý vị tham khảo.
Phở
Phở
được coi là có xuất xứ từ thành phố dệt Nam Định. Ngày xưa,
khách ăn phở thường gọi những hàng phở đi rong ngoài đường.
Một đầu gánh là chiếc chạn con đựng bát đũa, các lọ gia vị
và có ngăn kéo đựng bánh phở, thịt bò; đầu kia là bếp lò với
nồi nước dùng lúc nào cũng sôi sùng sục được đun bằng than.
Ngoài ra, còn có một thùng nước sạch dùng để tráng bánh phở.
Ngày nay, những hàng phở gánh đầu phố không
còn nữa. Để thưởng thức phở Hà Nội theo đúng cách của nó,
bạn đừng ngại ngần khi ngồi xuống chiếc ghế nhỏ của một quán
phở bên hè phố hoặc trong những căn phòng nhỏ sực mùi thịt
bò và mùi thơm của nước dùng. Ta gọi một bát phở ngay trước
khi ngồi xuống, có hành hoặc không, bò tái hoặc bò chín. Ba
phút sau thì phở được mang tới. Ta cho ít ớt, vắt tí chanh,
cho thêm chút hạt tiêu. Ăn xong, khách có thể thưởng thức
một chén trà xanh.
Ngày xưa, người ta chỉ bán phở bò, tới những
năm 50 của thế kỷ trước mới xuất hiện phở gà, phở cá và phở
kèm thịt lợn, rồi đến phở xào bò, gà nhưng người ta vẫn thấy
phở bò là hợp vị và ngon hơn cả. Trong quá trình di cư sang
các vùng đất, gia vị trong phở cũng có một số thay đổi, nhưng
phở Bắc, đặc biệt là phở Hà Nội vẫn ngon nhất: phở ở phố Bát
Đàn, phố Lý Quốc Sư, phố Nguyễn Khuyến…
Bún
bò Huế
Người
Huế có nhiều món ăn nổi tiếng: Bánh khoái bánh bèo, bánh bột
lọc, bánh ướt, cơm hến, bún bò ...Nhưng có lẽ món bún bò Huế
là món ngon và dễ ăn dễ cảm nhất đối với mọi người dân không
phải ... dân Huế!
Lát thịt bò thăn thái mỏng nâu nâu nhìn
rõ những thớ gân trắng trong ngoằn ngoèo tương phản màu sắc
bên bao cọng bún to sợi tròn tròn trắng tinh. Lớp váng hỗn
hợp xả bằm, ớt, xào chung hạt điều vàng óng sóng sánh phủ
lên bề mặt tô bún thật hấp dẫn, hành lá và nhất là một gốc
xả nấu chín cho đậm đà hương sắc không thể thiếu trong tô.
Nấu bún bò phải biết kiên nhẫn, muốn ngon và nước trong thì
chớ để lửa to, chịu khó hớt bọt, không nên ngâm sả lâu trong
nước bún vì sẽ bị chát. Ăn bún bò nên có rau thơm, rá, kinh
giới, tía tô, rau chuối bàọ…Muốn thêm phần phong phú thì cứ
chanh, ớt tươi xắt mỏng mà bỏ thêm, cuối cùng là muỗng ớt
bằm sa tế kiểu Huế trộn vào.
Chả
cá Lã Vọng
Vốn
là một món ăn dân gian do gia đình họ Đoàn chế biến, chả cá
đã thành món ăn khoái khẩu của thực khách sành ăn Hà Nội.
Lâu dần, hai tiếng chả cá được gọi thành tên phố và nó đã
trở thành một trong những địa chỉ văn hoá vật chất nổi tiếng
của Hà Nội xưa - nay.
Cá làm chả lại phải là cá Lăng thật tươi
mới đúng vị, vì cá Lăng ít xương, lại ngọt thịt và thơm. Thịt
cá này mà lọc ra cuộn với lá sói nướng lên thì chả thơm hết
chỗ nói. Nhưng cá này rất hiếm, lại có mùa nên món chả này
rất đắt và hãn hữu mới có. Vì thế nhà hàng thường phải thay
thế bằng cá quả. Thịt cá phải lạng từ hai bên sườn, thái mỏng
ướp với nước riềng, nghệ, mẻ, hạt tiêu, nước mắm rồi kẹp vào
cặp tre nướng trên lò than hoa hồng rực đặt ngay trên bàn
ăn của khách.
Người nướng phải khéo sao cho cá chín vàng
đều hai bên sau đó gỡ ra bát, rưới mỡ đang sôi lên trên. Ăn
chả phải ăn nóng, kèm với bánh đa nướng hay bún rối, lạc rang,
rau mùi, húng láng, thì là, hành củ tươi chẻ nhỏ chấm với
mắm tôm, vắt nhiều chanh tươi đánh sủi lên rồi tra thêm một
chút tinh cà cuống, thêm vài giọt rượu trắng. Tiếng mỡ nóng
phi hành hoa kêu lép bép. Màu cá nướng vàng rộm thơm lừng
đặt trên những lớp rau thì là xanh mướt, bên lò nướng than
hồng rực, ấm áp cho ta cái cảm giác như đang được hưởng cái
tinh tuý của đất trời nước non.
Cá
kho tộ
Có
rất nhiều cá mà ta có thể kho tộ nói chung trong cái tô bằng
đất or nồi đất (cái trách) cá lóc, rô, bông lau, kèo, lòng
tong, trạch v.v.. trước hết như Id làm và rửa cá sạch, ướp
mắm, đường, nước màu dừa, bột ngọt, 1 tép tỏi bầm nhuyễn nếu
thích không cần để lâu lắm 5-10' là đủ.
Thịt ba rọi cắt nhỏ bằng ngón tay út cho
vào tộ khìa cho ra mở khi thấy ba rọi vàng đều là lúc cho
cá ướp sẳn lúc nảy vào cho lửa vừa đừng lớn quá cho cá thấm
và săn thịt lại, khi thịt cá đả săn lại cho lửa thêm một chút
khi vừa sôi lên thì cho nước cháo hoặc nước cơm vào tộ săm
sấp ngang mặt với cá, thì nước cá kho mới sệt sệt, đừng cho
nước lạnh làm cá tanh và không ngon. Chờ sôi và bớt lửa, lúc
nầy thì muốn kho tiêu thì bỏ tiêu vào, kho ớt thì cho ớt vào
kho hành thì cho hành vào thế thôi, hoặc là cho tất cả, muốn
cho cá hơi khô và nước cá dính chung quanh gần miệng tộ thì
cho lửa bùng lên rồi tắt chỉ còn ít nước thôi còn không cứ
cho lửa riu riu cho đến khi ăn và có nước cá đề chấm dưa hay
rau sống.
Cốm
Cốm
Vòng quả là một thứ đặc biệt trong mọi thứ quà Hà Nội. Cốm
Hà Nội mới đích thực là cốm, mà chỉ có cốm làng Vòng mới ngon,
mới nổi tiếng. Kẻ Lủ cũng làm cốm, nhưng cốm Kẻ Lủ chỉ bán
trong làng. Có người cho rằng, ở làng Vòng có giống nếp vàng,
giống này khi còn non gặt về, đồ chín, giã nhanh, đều tay,
sàng sảy, ủ kín mới có được cái loại cốm dẻo và thơm như thế.
Còn màu xanh hấp dẫn đó thì do hồ thêm nước lá cơm xôi. Hà
Nội có mùa cốm. Sáng sớm tinh mơ đã có cốm. Cốm được gói từng
gói trong lá sen. Cốm ăn bằng tay, lấy ngón tay nhón từng
nhúm nhỏ đưa vào miệng, nhai nhỏ nhẹ, hương cốm thơm rất dễ
chịu. Mua cốm là phải ăn ngay, nếu để lâu, cốm se lại, khô
đi, mất độ dẻo. Cốm gói trong lá sen là để cho khỏi khô và
đượm lấy hương thơm ngát của lá sen tơ, làm tăng thêm vị cốm.
Cốm để khô có thể đem thắng nước đường làm món cốm xào. Đây
cũng là món cốm người Hà Nội thích ăn. Ngoài ra cốm còn được
làm thành món chả cốm rất ngon. Nhưng thích nhất vẫn là cốm
tươi.
Nem
lụi
Nem lụi làm từ thịt lợn nạc còn nóng, quết nhuyễn như quết
chả rồi trộn với bì và mỡ làm sạch, thái hạt lựu, nhồi kỹ,
ướp với các loại gia vị như tiêu, hành, mắm, đường, thính,
muối... Khi khách gọi, chủ quán xiên thành từng xâu nhỏ rồi
nướng trên bếp than hoa đỏ rực, thơm nức, tỏa lan khắp đoạn
phố như mời gọi, như níu kéo người đi đường. Nhưng cái ngon
của nem lụi không chỉ ở cái que thịt nướng ấy. Ăn cùng nem
lụi còn các loại như bánh đa nem cắt đôi. Bánh đa cuốn thịt
nướng với rau sống, giá sống, chuối xanh, vài lát ớt, tỏi,
gừng thái chỉ... rồi chấm nước lèo. Nước lèo là thứ quyết
định chất lượng nem lụi, là món gia truyền khó bắt chước được.
Nước lèo ăn nem lụi được chế biến từ hàng chục loại thực phẩm
như dầu thực vật, vừng lạc, bột đao, một số vị thuốc bắc,
thuốc nam,... Tất cả các nguyên liệu đó được chế biến thành
một hỗn hợp sền sệt vừa thơm vừa ngậy, ngọt bùi, ăn một lần
là nhớ mãi. Loại nước lèo này tương tự như nước lèo ăn bánh
khoái, bún thịt nướng
(nguồn: www.vietnamtourism.com.vn)
Bún
thang Thế Kỷ Hưng Yên
Những
người Hưng Yên xa xứ mỗi khi về thăm quê hương thường đến
Gốc Sanh ăn một bát bún thang của nhà hàng Thế Kỷ. Cửa hàng
của bà vốn không có biển hiệu. Khách ăn quen gọi cửa hàng
bằng tên của bà và cũng muốn món ăn này tồn tại ít ra cũng
một trăm năm.
Nhà hàng ngày trước rộng rãi thoáng mát,
trước cửa có cây to rủ bóng, treo mành. Quầy thức ăn căng
lưới, từng bát lươn, gà thái chỉ tẩm nghệ sào vàng ươm. Rồi
giò lụa, trứng tráng cũng đều thái chỉ đầy ú ụ trong đĩa,
trong bát. Khách đến bà dắp bón, xúc nhân nhanh thoăn thoát,
và loáng cái, bát bún thang đã là một tác phẩm nghệ thuật
đầy màu sắc: cái trắng của bún Vân Tiêu làm nền, cái vàng
của nhân lươn, nhân gà được tôn lên bởi đám rau răm xanh rờn.
Thêm thìa mắm tôm và muôi nước dùng bốc khói, bát bún như
ân cần mời mọc, nhìn đã ứa nước miếng.
Bún thang làm không khó, nhưng làm được
ngon không phải dễ. Thời trước không có mì chính nhưng nước
dùng được hầm với xương lợn, xương gà, cua đồng, tôm he và
sá sùng. Váng nước được hớt đi, còn lại là lượng nước trong
béo ngậy. Bí quyết của nhà hàng là mọi thứ nguyên liệu được
chế biến đủ độ chín tới, liều lượng cân đối không non tay
cũng không già lửa, làm mãi thành quen, nếu không bát bún
trở thành vô duyên không sao chữa được. Thang lươn ngon hơn
thang gà, làm công phu hơn và cũng đích thực là bún thang
hơn. Lươn thui rồi mới mổ, không mất máu, bao giờ cũng ngon.
Bún thang là món ăn nhiều đạm phù hợp với
tuổi tráng niên đang sung sức. Nó cũng là một nỗi nhớ của
Hưng Yên.
Cơm
dừa Bến Tre
Bến
Tre được mệnh danh là xứ dừa. Gần đây, trên bàn ăn dưới bóng
dừa của xứ sở này đã có thêm một món ăn mới không kém phần
quyến rũ: cơm dừa. Muốn ăn cơm dừa phải điện thoại đặt trước
và hình như cho tới nay chỉ có Nhà hàng nổi ở thị xã Bến Tre
mới phục vụ món ăn cầu kỳ này. Nấu cơm dừa tốn thời gian chừng
2 tiếng đồng hồ nên nhà hàng chỉ đặt làm từ 10 trái dừa trở
lên, còn dưới con số này... hổng thèm nhận!
Làm cơm dừa, người ta dùng gạo ngon, sau
khi vo sạch bằng... nước dừa, để cho ráo rồi cho vào trái
dừa đem chưng cách thủy. Trái dừa dùng nấu cơm phải là dừa
xiêm, sau khi chọn được trái vừa ý, người ta không đả động
gì đến phần bên trong quả dừa, chỉ gọt cho quả dừa có hình
dáng bắt mắt. Kế đó, cắt ngang một phần trên quả dừa để trút
nước ra và dùng miếng cắt đó như cái nắp để đậy "nồi
cơm dừa". Kế tiếp đầu bếp sẽ trổ tài cho gạo vào trái
dừa, sau đó đổ nước dừa tươi vào vừa đủ rồi đậy nắp lại.
Nấu cơm dừa cái khó nhất là phải canh nước
dừa và gạo phải đều nhau, nếu nhiều nước ít gạo và ngược lại
thì cơm dừa sẽ nhão nhoẹt hoặc cứng ngắc, hỏng mất mùi vị.
Cơm dừa ăn nóng mới ngon. Nếu để lâu, hạt cơm trắng ngần sẽ
bị thấm thêm hơi dầu từ dừa sẽ ngả sang màu vàng nhạt. Một
trái cơm dừa được tính 15.000đ.
Cơm dừa phải ăn cùng tôm rang dừa mới đúng
gu. Tôm đất, tôm bầu, tôm lóng, tôm càng xanh sau khi lặt
chân, rửa sạch và ướp gia vị từ đường, muối, bột ngọt để một
lúc cho ngấm. Rang dừa cũng đơn giản, sau khi bỏ tôm lên chảo
rang người ta cho nước cốt dừa vào chảo để lửa riu riu. Đến
khi tôm ngấm nước cốt dừa chuyển sang màu đỏ quạch là coi
như đã xong món tôm rang dừa. Lúc này thịt tôm ngấm dừa sẽ
có mùi vị dai, giòn.
Tới Bến Tre mà chẳng nán lại dùng cơm dừa,
tôm rang dừa thì xem như cuộc du lịch tới xứ dừa chưa trọn
vẹn. Nếu đã có mặt xứ này thì hãy tranh thủ làm một "quả"
cơm dừa để bổ sung thêm kho tàng ẩm thực phong phú và có thêm
ấn tượng về vùng đất mang tên dáng đứng Bến Tre này.
(Theo www.vietnamtourism-info.com)
Dế
chiên giòn
Dế
này được dân địa phương gọi là dế cơm, cũng có cánh, có càng,
có chân như bao loại dế khác nhưng to gần bằng ngón tay cái.
Do vùng đất Cầu Kè, Trà Vinh là vùng đất giồng nên có rất
nhiều dế sinh sống trong hang dưới mô đất, người đi săn chỉ
cần mang theo cây len (xuổng) hay cây mác (dao) lớn men theo
giồng đất là bắt được dế.
Một người săn giỏi thì bắt khoảng 100 con
dế cơm/ngày. Thương lái hay các chủ quán mua từ 200-300 đồng/con.
Khi vào các tiệm ăn thì các chủ đầu bếp chế biến, bán cho
thực khách với giá 500 đồng/con.
Cách chế biến món dế chiên giòn rất đơn giản. Dế còn sống,
rạch lấy ruột ra, rửa sạch và nhét 1 hạt đậu phộng (lạc) vào,
nhớ là vẫn để chân, càng dế. Sau đó, bắc chảo dầu (mỡ) để
lửa mạnh cho dầu sôi sùng sục, kế đến bỏ dế đã làm sạch vào
để chừng vài phút là dế chín giòn, vẫn còn nguyên hình, gắp
ra cho vào dĩa. Dế chiên giòn ăn cùng muối tiêu chanh.
Nói đến món dế chiên giòn thì phải nói đến
quán ăn chuyên chế biến côn trùng của bà Bảy Sâm tại Hòa Tân,
cách thị trấn Cầu Kè chừng 1 km. Một dĩa dế chiên giòn (khoảng
40 con), giá rất “hữu nghị” từ 30.000-40.000 đồng.
Hủ
tiếu Sa Đéc
Đã
từ lâu có 3 thương hiệu hủ tiếu nổi tiếng nhất ở các tỉnh
phía Nam, đó là: Mỹ Tho, Nam Vang và Sa Đéc. Tuy không nổi
đình nổi đám bằng hai "bậc đàn anh", nhưng hủ tiếu
Sa Đéc vẫn có một giá trị đặc biệt trong lòng người sành thưởng
thức món ngon.
Bánh hủ tiếu Sa Đéc sợi vừa phải, mềm mà
không bở, không dai, vị không chua, thơm mùi gạo mới, trắng
tươi màu sữa. Bánh hủ tiếu Sa Đéc làm nên hủ tiếu Sa Đéc.
Nước lèo hủ tiếu Sa Đéc được nấu công phu với xương heo, phải
thăm chừng độ lửa, phải biết hớt bọt mới trong và tỏa thơm
hương vị, cũng là một bí quyết.
Nguyên liệu quan trọng khác của hủ tiếu
Sa Đéc là thịt nạc băm, thịt nạc nguyên miếng dày, miếng chả
vàng, tim, gan, phèo... đều mới "ra lò", còn nóng
ấm. Điểm xuyết nét đẹp mắt và ngon thơm miệng lưỡi cho tô
hủ tiếu Sa Đéc có hành lá xắt nhuyễn, mấy cọng ngò, nhất là
sự hiện diện của "tăng xại" - cải xắt nhỏ ướp hương
vị đặc trưng của người Hoa. Bên cạnh tô hủ tiếu là dĩa giò
cháo quẩy, dĩa rau tươi (giá, hẹ cắt đôi, cần tàu và xà lách),
chén nhỏ xì dầu, lọ ớt sừng trâu xắt lát ngâm giấm. Trước
năm 1975, ở Sa Đéc có các quán hủ tiếu nổi tiếng là: Quán
chú Cá, Chí Thành, Lãnh Nam (đường Trần Hưng Đạo).
Trước năm 1975, hủ tiếu Sa Đéc có mặt tại Sài Gòn, do một
nữ nghệ sĩ lấy sinh quán và thứ của mình làm nghệ danh: Bà
Năm Sa Đéc. Quán hủ tiếu của bà Năm Sa Đéc nằm ở góc đường
Nguyễn Tri Phương - Hùng Vương, bày trí bằng tre lá theo phong
cách "văn minh miệt vườn".
Bánh hủ tiếu của bà được lấy từ làng bột Tân Phú Đông mỗi
ngày, do cánh xe đò Sa Đéc - Sài Gòn chuyển tới. Khách có
thể gọi tô hủ tiếu xương hoặc thịt. Dù là xương hay thịt thì
đều mềm và có hương vị đặc biệt không đâu có. Hương vị ấy
là do tay nghề của người nữ nghệ sĩ tài ba này nêm nếm. Bên
cạnh hủ tiếu Sa Đéc, quán của bà còn bán bánh bao làm theo
công thức mà ngày xưa ông Cả Cần ở Long An ưa chuộng, được
người ta gọi là bánh bao Cả Cần.
Ngày nay, hủ tiếu Sa Đéc bình dân nhưng
ngon bán ở gần Trại hòm Sáu Lâu (đường Trần Phú); cầu Đình,
cầu Đốt, khoảng 6.000 đồng/tô. Bình dân nhất là quán chị Dậu
ở đường Nguyễn Tất Thành, nơi có cây vú sữa, qua cầu ván bắc
ngang con kinh. Hủ tiếu chị Dậu được nhiều người tìm đến thưởng
thức vì xương mềm, đặc biệt nước lèo ngọt xương (vì chị tuyệt
đối không dùng bột ngọt).